KỸ THUẬT
TRỒNG, CHĂM SÓC THU HOẠCH BƠ
PHẦN I: YÊU CẦU SINH THÁI
NHIỆT ĐỘ
Các vùng trồng Bơ chính trên thế giới có nhiệt độ trung bình hàng năm trong phạm vi 14 - 25oC, trung bình tháng lạnh nhất 2,6 - 17oC, trung bình tháng nóng nhất 14 - 25oC.
· Cần đủ nước từ khi đậu quả cho tới khi quả già.
· Nở hoa gặp mưa to làm giảm năng suất vì khó thụ phấn.
· Mưa nhiều (trên 300 mm/ tháng), thoát nước kém dễ gây bệnh thối rễ.
· Ẩm độ không khí thích hợp 70 - 80%, quá ẩm dễ gây bệnh trên lá và quả như: đốm lá, ghẻ quả, thán thư, bọ trĩ, rệp mềm.
ĐẤT TRỒNG
* Lý tính:
- Tầng canh tác dày: tối thiểu 2m ở vùng nhiều mưa dễ ngập úng; tối thiểu 1,5m ở vùng mưa trung bình. Không có tầng sét, tầng kết von;
- Tầng đất mỏng thoát nước kém có thể lên luống.
- Không ngập, úng tạm thời, cục bộ, thoáng khí, hàm lượng oxy cao.
* Hóa tính:
- pH: 5,0 - 6,5, đất quá chua dùng vôi để cải tạo tạm thời
- Không bị nhiễm mặn, kiềm.
- Chất khoáng đầy đủ và cân đối nhiều mùn
Yêu cầu lý tính đất rất quan trọng vì khó cải tạo trong thời gian ngắn.
Các chất khoáng và hữu cơ có thể sớm bổ sung, điều chỉnh.
Gió: Cây Bơ dễ bị rụng quả và xây xát vỏ quả nếu gió mạnh và liên tục. Gió khô nóng có thể làm khô hoa, hạt phấn không thể nẩy mầm, cây không đậu quả.
Ánh sáng: Cần trên 2.000 giờ nắng/ năm. Nắng to gây sém, nám quả, cành, thân.
CHỌN NƠI TRỒNG PHÙ HỢP
Cây Bơ nhạy cảm với điều kiện khí hậu, đất đai.
Tây Nguyên là vùng trồng thích hợp hơn cả, đặc biệt là trên đất Bazan tầng canh tác dày, thoát nước tốt, chất hữu cơ cao.
PHẦN II: RA HOA ĐẬU QUẢ CỦA BƠ
HOA
- Cây Bơ ghép thường ra hoa và đậu quả sau 2 - 3 năm trồng.
- Cây Bơ ra rất nhiều hoa.
- Hoa nở rải rác suốt mùa hoa.
- Một số ít cây ra hoa 2 - 3 đợt, cho thu trái vụ.
- Các chùm hoa Bơ ra ở đầu cành hoặc từ nách lá.
- Mỗi hoa nở 2 lần, 1 lần nở đóng vai trò như hoa đực và 1 lần nở nữa đóng vai trò như hoa cái.
Tùy và thời gian nở hoa trong ngày với vai trò là hoa đực hay hoa cái mà người ta chia cây Bơ làm 2 nhóm: A và B.
Để cho cây thụ phấn tốt và nâng cao tỷ lệ đậu quả thì trong một vườn hoặc các vườn lân cận nhau phải có một cây nhóm A lẫn cây nhóm B. Nhiều giống Bơ nhiệt đới vẫn có khả năng tự thụ do đó cây mọc riêng biệt một mình vẫn có khả năng đậu quả.
QUẢ
- Thời gian mang quả trên cây tùy theo giống. Trong điều kiện nhiệt đới thời gian mang quả có thể kéo dài từ 5 đến 8 tháng.
- Quả Bơ non rụng nhiều sau khi đậu 2 - 3 tháng, nhất là vào đợt ra chồi lá đầu mùa mưa cạnh tranh dinh dưỡng với quả. Bón phân để giảm rụng quả vừa nuôi chồi lá.
- Tại một thời điểm trên cây có nhiều cỡ quả với độ già khác nhau.
- Quả Bơ già không chín mềm trên cây. Quả già sinh lý vẫn còn tiếp tục trên cây 2 - 4 tháng. Vì vậy có thế thu hoạch muộn để tránh những thời điểm quá nhiều Bơ trên thị trường.
- Thịt Bơ chiếm khoảng 65 - 75% trọng lượng quả.
- Khi Bơ già chín lớp vỏ này có màu xanh, xanh đậm, tím hoặc đen tùy theo từng giống.
Quả Bơ ngon và hấp dẫn khi chín thịt màu vàng, chắc, không xơ, hạt đóng khít với thịt nhưng dễ tách.
PHẦN III: TRỒNG VÀ CHĂM SÓC BƠ
* Giống bơ:
Hiện nay Bơ được trồng tại Việt
* Giống trong nước: Đó là những cây đầu dòng đáp ứng các tiêu chuẩn chọn lọc, nhân vô tính bằng phương pháp ghép để cung cấp giống cho sản xuất. Giống được mang tên, ký hiệu do các cơ quan nghiên cứu giống trong nước đặt ra.
|
HTS1: Hoa nhóm A - Năng suất: 80 - 100 kg/cây - Thời vụ thu hoạch: tháng 7 - 8 SDH: Hoa nhóm A - Năng suất: 120 - 150 kg/cây - Thời vụ thu hoạch: tháng 4 - 5 TA1: Hoa nhóm A Thời vụ thu hoạch tháng 7 – 9 TA3: Hoa nhóm A Thời vụ thu hoạch tháng 8 – 9 TA36: Hoa nhóm A Thời vụ thu hoạch tháng 9 – 10 TA40: Hoa nhóm A Thời vụ thu hoạch tháng 8 - 9 TA17: Hoa nhóm B Thời vụ thu hoạch tháng 6 – 8 |
EST4: Hoa nhóm B Năng suất: 100 - 120 kg/cây, Thời vụ thu hoạch: tháng 7 - 8 HA: Hoa nhóm B - Năng suất: 160 - 180 kg/cây - Thời vụ thu hoạch: tháng 9 - 10 VĐ1: Hoa nhóm B - Năng suất: 150 - 180 kg/cây - Thời vụ thu hoạch: tháng 8 - 9 S2V1BDT: Hoa nhóm B - Năng suất: 100 - 120 kg/cây - Thời vụ thu hoạch: tháng 6 - 7 TA5: Hoa nhóm B Thời vụ thu hoạch tháng 9 -10 TA21: Hoa nhóm B Thời vụ thu hoạch tháng 6 – 8 |
Các giống này hiện ở Cty TNHH tư vấn và PT nông lâm nghiệp Wasi
Hiện có một số giống mới nhập nội trong mấy năm gần đây đang được nghiên cứu khảo nghiệm, trong đó có nhiều giống thương mại nổi tiếng khắp thế giới như Hass, Sharwil, Reed, Booth7.... Giống Booth7 hiện đang được khuyến cáo trồng ở Tây nguyên trên những vùng có cao độ 800m.
GIỐNG BƠ NHẬP NỘI
BOOTH7: Hoa nhóm B
Đây là giống rất phù hợp vùng nhiệt đới, sinh trưởng khỏe, năng suất cao, chất lượng ngon, già chín muộn bán được giá
- Năng suất: 160 - 180 kg/cây
- Thời vụ thu hoạch từ: tháng 9 – tháng11
REED: Hoa nhóm B
Giống này thích ứng rộng với nhiệt độ, có thể trồng vùng khá lạnh lẫn vùng nhiệt đới thấp nóng. có thể bảo quản lâu sau thu hoạch.
- Năng suất: 120 - 160 kg/cây
- Thời vụ thu hoạch: tháng 11 - 1
SHARWIL: Hoa nhóm B
Giống này thích ứng khá rộng nhiệt độ, có thể trồng ở những vùng cao nguyên nhiệt đới. Già chín muộn, quả già đeo lâu trên cây và có thể bảo quản lâu sau thu hoạch.
- Năng suất: 120 - 140 kg/cây
- Thời vụ thu hoạch: tháng 11 - 2
PHẦN IV: NHÂN GIỐNG
Do cây Bơ thụ phấn chéo nên muốn có cây giống tốt giữ được những đặc điểm của giống gốc thì phải nhân giống vô tính. Nguồn chồi ghép phải được những đơn vị được cấp phép cung cấp.
CÂY GIỐNG GHÉP
· Kích thước bầu 14 – 16 x 25 - 30
· Đất tơi xốp, bầu vừa đủ chặt.
· Cây khỏe mạnh: lá màu xanh đậm, vết ghép phẳng, thân thẳng, không bị sâu bệnh hại.
· Đã được huấn luyện chịu nắng.
· Có tên giống và tài liệu mô tả đặc tính giống.
· Cây sau khi ghép 3 - 4 tháng đủ tiêu chuẩn trồng.
· Chiều cao khoảng 20cm tính từ mắt ghép
PHẦN V: TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
trồng đúng kỹ thuật ngay từ đầu với cây giống đạt tiêu chuẩn, khoảng cách, mật độ trồng và chế độ chăm sóc tốt sẽ cho vườn cây bước vào giai đoạn kinh doanh hiệu quả cao.
KHOẢNG CÁCH, MẬT ĐỘ
Chọn khoảng cách, mật độ trồng còn tùy thuộc vào nền đất, giống.... Khoảng cách trồng tham khảo:
o Trồng xen với cà phê vối: 12m x 12m
o Trồng thuần: 6m x 6m; 7m x 7m; 8m x 8m; 8m x 6m; 8m x 8m
HỐ TRỒNG
- Kích thước hố 0,5m x 0, 5m x 0,6m
- Đất mặt trộn với 15 - 20 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg phân lân nung chảy + 0,1 kg vôi bột
- Trộn phân lấp hố nên lấp ở hố cao hơn mặt đất khoảng 5- 10cm
TRỒNG
- Đào hố trồng cây sâu và rộng hơn bầu đất
- Cắt đáy bầu
- Rạch bên hông bầu
- Đặt bầu xuống hố bằng mặt đất
- vừa lấp đất vừa rút bỏ túi bầu
- Lấp hố, nén chặt đất, dùng cọc cố định cây thẳng.
PHẦN VI: CHĂM SÓC
CHĂM SÓC CÂY CON
Trong những năm đầu, giữa 2 cây trên hàng Bơ nên trồng cây chắn gió tạm thời như muồng hoa vàng, cốt khí, flemingia... trồng xen các loại cây ngắn ngày như: đậu đỗ …
LÀM CỎ
Trong mùa mưa làm sạch cỏ 3 - 4 lần theo băng trên hàng hoặc theo từng gốc. tủ quanh gốc cho cây Bơ bằng cỏ, tàn dư cây họ đậu, cây chắn gió tạm thời.... Lưu ý tủ chừa cách gốc 15 - 20cm.
TƯỚI NƯỚC
Trong điều kiện mùa khô khắc nghiệt kéo dài 5 - 6 tháng, cây Bơ cần được tưới để duy trì sinh trưởng và cho năng suất cao.
- Năm thứ nhất đến thứ 3 sau trồng: 50 - 200 lít nước/cây/lần; tưới 2 - 3 lần vào giữa và cuối mùa khô.
- Khi cây cho quả: 200 - 400 lít/cây/lần; tưới 2 - 3 lần, từ sau khi hoa bắt đầu nở.
BÓN PHÂN
Nói chung tỷ lệ N:P:K trong thời kỳ cây chưa mang quả là 1:1:1 và trong thời kỳ mang quả là 2:1:2.
+ Năm trồng mới: 0,5 kg/cây/năm.
+ Năm thứ hai: 1 kg/cây/năm.
+ Năm thứ ba: 1,5 kg/cây/năm
Chia lượng phân này thành 3 - 4 phần đều nhau để bón. Chỉ bón phân khi đất đủ ẩm.
- Đạm (N), kẽm(Zn), B (Bo) là những yếu tố quan trọng nhất.
- Canxi có vai trò quan trọng hạn chế bệnh rễ và nâng cao chất lượng quả.
- Chú ý phun vi lượng B và Zn để tăng đậu quả và tăng năng suất.
- Bón vừa đủ theo nhu cầu, giảm ô nhiễm môi trường đất, nước.
- Muốn thực hiện bón phân cân đối, cần phải định kỳ chẩn đoán đất và lá.
- Bón vôi tăng cường phẩm chất quả.
TẠO HÌNH, TỈA CÀNH
Là kỹ thuật cần được coi trọng để tạo cho cây tư thế chắc, bộ tán cân đối, ổn định sản lượng, hạn chế sâu bệnh hại.
- Trong 1 -2 năm sau trồng, cắt bỏ cành ngang dưới thấp chừa phần thân thoáng 50 - 70cm, nuôi một thân chính.
- Vào mùa mưa, cây cần được tỉa cành thông thoáng và quét vôi trên thân.
VUN GỐC
Trên nền đất thoát nước kém, cây sinh trưởng chậm và dễ bị bệnh thối cổ rễ. Hàng năm, đất ở gốc cây cần được vun cao dần kết hợp bón phân chuồng và tủ gốc.
GHÉP CẢI TẠO GIỐNG
Những vườn Bơ trồng từ hạt thường có một số cây không đạt yêu cầu về năng suất, chất lượng quả, khả năng kháng bệnh, mùa thu hoạch.... Có thể cắt bỏ thân cũ, nuôi chồi mới và ghép giống chọn lọc
PHẦN VII: PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH
Quản lý dịch hại tổng hợp, coi trọng trong áp dụng các biện pháp canh tác và sinh học giúp cho sản xuất Bơ bền vững và bảo đảm an toàn cho người sản xuất lẫn tiêu dùng.
BỆNH HẠI THƯỜNG GẶP
1. Thối rễ do Phytophthora cinnamomi
Tác hại:
- Là bệnh hại nguy hiểm nhất của cây Bơ, gây hại ở mọi lứa tuổi của cây và gây bệnh trên hàng ngàn ký chủ khác.
- Phát triển mạnh trên chân đất quá ẩm, thoát nước kém.
- Lây lan nhanh, dễ lây lan qua cây giống vườn ươm có sẵn mầm bệnh; hạt giống lấy từ quả rụng trên đất nhiễm mầm bênh; dụng cụ; giày dép; người và gia súc di chuyển.
Triệu chứng:
- Lá nhỏ, xanh nhạt hoặc vàng, thường héo rũ với đầu lá úa nâu. Tán lá thưa, ít ra lá mới. Nhiều cành nhỏ trên ngọn bị chết.
- Cây bệnh vẫn mang nhiều quả nhưng quả nhỏ, năng suất thấp.
- Cây bệnh rất ít ra rễ tơ. Rễ tơ nhiễm bệnh màu đen, dễ gãy và chết.
Phòng trừ tổng hợp:
Bằng các biện pháp canh tác.
- Trồng trên đất thoát nước tốt; tạo mương rãnh thoát nước; vun gốc, trồng trên luống cao; không trồng âm xuống đất.
- Không dùng cây giống có nguy cơ chứa nấm bệnh.
- Dùng gốc ghép kháng bệnh.
- Hạn chế di chuyển tự do gần vùng bệnh; nếu cần thiết phải theo đúng các hướng dẫn.
- Tưới nước vừa đủ, không dùng nước có nguy cơ nhiễm bệnh.
- Không trồng lại ngay trên vườn có bệnh.
- Bón phân đạm, phân gia súc vừa phải.
Các loại thuốc hóa học nhóm Phosphite có thể giúp cây bệnh phục hồi, tuy nhiên dùng thuốc trừ nấm. Các loại thuốc trừ nấm thường dùng là:
· Aliette
· Agri-fos, Fosphite (Phosphorous acid)
· Ridomil Gold
Sử dụng thuốc theo hướng dẫn trên bao bì và cán bộ kỹ thuật hướng dẫn.
2. Bệnh loét và thối thân do Phytophthora citricola
Tác hại:
Là bệnh nguy hiểm sau bệnh thối rễ, hệ ký chủ rộng thường gây hại cùng với bệnh thối rễ Phytophthora cinnamomi.
- Tấn công vùng cổ rễ, gốc thân, cành già và cả trên quả.
- Bệnh phát triển thông qua các vết thương, lây lan mạnh trong điều kiện độ ẩm không khí cao, đất quá ẩm ướt.
Triệu chứng:
- Bệnh thường xuất hiện ở vùng gần mặt đất, đặc biệt nơi thân hoặc cành thấp có vết thương. Vết loét ban đầu là một vùng vỏ màu nâu sẫm chảy nhựa đỏ, sau đó chuyển sang nâu, trắng và khi khô có phủ lớp phấn.
- Cắt bỏ bề mặt vùng loét thấy vết thương màu cam cam hoặc nâu. Bệnh gây hại hệ thống mạch dẫn.
- Cây bệnh bị yếu sức, vùng ngọn cây ít phát triển. Khác với bệnh thối rễ là kích thước lá vẫn bình thường. Đôi khi cây bị vàng rụng nhanh và cây chết đột ngột.
- Quả đeo gần mặt đất dễ bị nhiễm bệnh này. Trên vỏ quả, vùng bệnh màu đen rất rõ thường xuất hiện phía đuôi quả. Thịt quả bên trong cũng bị hư.
Phòng trừ tổng hợp:
- Vệ sinh đồng ruộng, dùng gốc ghép kháng bệnh, không tạo vết thương trên cây.
- Sau khi cắt cành tạo hình hoặc phát hiện vết thương, xử lý thuốc trừ nấm bệnh. Với vùng bệnh mới bị nhiễm, cắt bỏ mô bệnh và xịt thuốc trừ nấm.
- Các thuốc trừ nấm:
· Aliette
· Agri-fos, Fosphite (Phosphorous acid)
· Đồng đỏ (Norshield)
Sử dụng theo hướng dẫn.
Phòng trừ bệnh trên quả bằng cách cắt bỏ những cành cách mặt đất dưới 1m, tỉa bỏ cành khô, tủ gốc dày, thu gom quả rụng đưa ra khỏi vườn.
3. Bệnh thán thư do nấm Colletrichum gloeosporioides.
Tác hại:
Đây là bệnh phổ biến ở tất cả các nước trồng Bơ, nhất là vùng nhiều mưa, bệnh gây hại chủ yếu trên quả trước cũng như sau thu hoạch. Sau thời kỳ mưa dài, ẩm độ cao, quả sau thu hoạch thường bị bệnh nặng hàng loạt.
Triệu chứng:
- Trước thu hoạch, trên vỏ quả xuất hiện những vết nâu đen nhỏ đường kính dưới 5mm. Nếu không có vết thương do côn trùng hoặc gió thì vết bệnh không phát triển thêm.
- Sau thu hoạch, vết bệnh ngày càng đen hơn và to hơn với những chỗ lõm. Sau cùng vết bệnh lan ra khắp cả bề mặt và bên trong thịt quả. Phần thịt quả bị hỏng lúc đầu cứng sau đó mềm nhũn. Trên bề mặt vỏ quả có thể hình thành những khối bào tử màu tím.
Phòng trừ tổng hợp:
- Căt tỉa bỏ những cành bệnh, lá bệnh.
- Cắt bỏ những cành thấp cách mặt đất dưới 1m. Trước mùa hoa cắt bỏ hết cành khô, quả còn sót trên cây. Chỉ tạo hình và thu hoạch trong điều kiện khô ráo..
- Không cần thiết xử lý thuốc trừ nấm cho quả sau thu hoạch nếu được thu hái, vận chuyển, bảo quản phù hợp. Giữ cho quả khô và mát cho tới khi bán. Nhiệt độ sau thu hoạch là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của bệnh. Ngay sau khi thu hoạch, bảo quản lạnh từ 5 - 120C tùy theo giống.
- Khi cần có thể phun các loại thuốc gốc đồng để hạn chế bệnh, theo hướng dẫn
4. Bệnh ghẻ vỏ quả do Sphaceloma perseae.
Tác hại:
- Tấn công trên lá, cành và quả, rất nghiệm trọng ở vùng nhiệt đới ẩm cũng như một số nước á nhiệt đới.
- Tình trạng bệnh tùy theo giống. Giống nhiễm nặng gây giảm năng suất do rụng quả. Quả còn lại cũng không có giá trị thị trường do ngoại hình xấu.
Điều kiện phát sinh phát triển
- Khi thời tiết mưa nhiều, quá ẩm, nấm tấn công mô non của lá, cành, quả.
- Bào tử lây lan nhờ gió, mưa, hạt sương, côn trùng.
- Vết bệnh là cửa ngõ xâm nhập của các vi sinh vật gây thối quả.
Triệu chứng:
- Trên vỏ quả hình thành vết bệnh bầu dục, hơi gồ lên, màu nâu - nâu tím. Khi quả già, các vết bệnh liên kết, vết bệnh co lại gây nứt, tạo, toàn vỏ sần sùi. Chất lượng thịt quả không bị ảnh hưởng nhưng trông bên ngoài vỏ rất xấu.
- Trên gần mặt dưới lá, cuống lá, cành non cũng bị vết ghẻ hình bầu dục dài.
Phòng trừ tổng hợp:
- Vệ sinh đồng ruộng, cắt bỏ cành bệnh sau thu hoạch, đốt cành, lá.
- Phun các thuốc gốc đồng với nồng độ theo hướng dẫn trên nhãn.
- Thời điểm phun: đầu mùa nở hoa, gần cuối mùa nở hoa, 3 - 4 tuần sau khi tất cả quả đã đậu.
SÂU HẠI
Trên cây Bơ thường gặp một số sâu hại như:
· Rệp phấn trắng mình mềm
· Rệp vảy mềm
· Các loại sâu ăn lá, gặm quả
o Sâu cuốn lá
o Bọ xít muỗi
o Sâu đục thân, cành
o Sâu đục quả, hạt
o Sâu róm
Trong điều kiện trồng chưa tập trung như hiện nay, nhìn chung các loài sâu hại này chưa gây hại có ý nghĩa kinh tế.
PHẦN VIII: ĐỘ GIÀ THU HOẠCH
Thu hoạch đúng độ già là yêu cầu đặc biệt quan trọng để bảo đảm chất lượng vốn có của giống Bơ chất lượng cao.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẦN LƯU Ý
1. Qủa không được chín mềm trên cây.
2. Quả trên cùng cây nhưng không già cúng lúc.
3. Mùa ra hoa kéo dài trung bình khoảng 2 tháng, từ lúc ra hoa tới lúc thu hoạch được khoảng 5 - 8 tháng.
4. Quả già vẫn đeo trên cây từ 1- 3 tháng.
5. Có thể thu hoạch nhiều đợt trên cùng 1 cây.
CÁCH XÁC ĐỊNH ĐỘ GIÀ THU HOẠCH
1. Thời gian từ lúc hoa nở tới lúc thu hoạch
2. Kích thước và trọng lượng quả.
3. Thay đổi màu sắc của vỏ quả. Vỏ càng già vỏ quả càng giảm độ bóng và cuống quả chuyển sang màu nâu. Quả càng già vỏ quả nổi rõ u cám..
4. Màu cuống quả.
5. Màu thịt quả. Quả già thịt quả chuyển sang màu vàng
6. Vỏ thịt quả.,vỏ hạt. Quả già có vỏ thịt quả và vỏ hạt màu nâu cánh dán.
7. Lắc quả nghe tiếng kêu của hạt.
8. Bắt đầu có quả già rụng.
PHẦN IX: THU HOẠCH
Trang bị dụng cụ thu hoạch phù hợp, thu hoạch đúng cách, thời điểm và cẩn thận sẽ đảm bảo chất lượng quả khi thu hoạch
- Kéo cắt, vợt gắn sào, túi đựng quả.
- Sào thu hoạch dài 3 – 5m, vợt có mấu/ dao cắt nằm trên miệng túi hứng có đường kính miệng túi 20 - 25cm, miệng túi mở nhờ may gắn với thanh kim loại cứng uốn tròn, túi đựng được 4 - 6 quả.
- Túi hoặc giỏ mềm, bạt gom quả, thang. Xe đẩy vận chuyển quả ra khỏi vườn.
THỜI GIAN THU HOẠCH TRONG NGÀY:
- Sáng sau khi cây lá khô sương, nước đọng hoặc xế chiều.
- Không thu hoạch vào giờ trưa quá nắng nóng.
- Không thu hoạch vào lúc có mưa.
- Quả thu hoạch gom lại dưới tán cây, bạt che, tránh ánh nắng chiếu trực tiếp lên quả.
Kiến thức nhà nông 




















